15/08/2012

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ


CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sakhách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

                         (Bà Huyện Thanh Quan)

14/08/2012

Chinh phụ ngâm khúc


Trông bến nam bãi che mặt nước
Cỏ biết um, dâu mướt màu xanh.
Nhà thôn mấy xóm chông chênh
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.

(Đoàn Thị Điểm dịch, Chinh phụ ngâm khúc)

13/08/2012

Tam tự kinh



Ngọc bất trác, bất thành khí
Nhân bất học, bất tri lý

VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ (xa ngắm thác núi lư)


VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ
(xa ngắm thác núi lư)


Phiên âm
                             Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

Lí Bạch (701-762)

Dịch thơ
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây
(Tương Như dịch)

Dịch nghĩa
Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía
Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước.
Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước
Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây.



TĨNH DẠ TỨ
       (cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)

Phiên âm
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Lí Bạch (701-762)

Dịch thơ
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương
(Tương Như dịch)


Dịch nghĩa
Ánh trăng sáng đầu giường,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê cũ.

THÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG


THÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG
(Buổi chiều đứng ở phủ thiên trường trông ra)

Phiên âm
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lí ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.

Trần Nhân Tông (1258-1308)

Dịch thơ
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.

(Ngô Tất Tố dịch)

Dịch nghĩa
Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ
Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có nửa như không
Trong tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về hết
Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.

PHONG KIỀU DẠ BẠC


PHONG KIỀU DẠ BẠC
(Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều)
Phiên âm
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Trương Kế
(sống khoảng TK VIII, người Tương Châu, tỉnh Hồ Bắc)

Dịch thơ
Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nữa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

(K.D dịch)

Dịch nghĩa
Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời,
(Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông.
Chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô
Nữa đêm tiếng chuông văng vẳng vọng đến thuyền khách.

08/08/2012

Lương y bất đáo gia


Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sổ chản trà
Mỗi nhật y như thử
Lương y bất đáo gia”

(Trích trong truyện “Chén trà trong sương sơm” trong tập “Vang bóng một thời”, 1940,  tác giả Nguyễn Tuân)

Nguyễn Tuân cũng đã ghi 4 câu diễn Nôm như sau:

“Mai sớm một tuần trà
Canh khuya dăm chén rượu
Mỗi ngày mỗi được thế
Thầy thuốc xa nhà ta”


Còn bài này nguồn gốc từ đâu chư rõ?

Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sổ trản trà
Nhất nguyệt dâm nhất độ
Lương y bất đáo gia.

Dịch:
Đêm tối uống vài ba chén rượu
Sáng ra lót dạ mấy chung trà
Một lần một tháng e vừa đủ

Chắc chắn lương y khỏi tới nhà